Trung Quốc: một cường quốc nửa vời

Lâm Văn Bé

Năm 2010, Trung Quốc (viết tắt là TQ) chính thức vượt qua Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì thế giới khi tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Trung Quốc vượt lên đến 5878 tỉ USD trong khi Nhật xuống còn 5497 tỉ USD (siteresources.worldbank.org). Nhiều chuyên gia kinh tế (Geoffrey Murray. China, the next superpower.-  David Shambaugh. Greater China: the next superpower) và cả Ngân Hàng Thế giới tiên đoán Trung Quốc sẽ (hay có thể) là cường quốc số 1 (siêu cường) vào thập niên 2020.

Ý niệm về siêu cường (superpower) đã được đề cập lần đầu tiên vào năm 1944 khi William Thornton R. Fox, giáo sư chính trị học tại đại học Columbia xuất bản quyển sách tựa là The superpowers: The US, Britain, and the Soviet Union  theo đó, vào thời điểm nầy, Hoa Kỳ, Anh Quốc và Liên Sô là ba siêu cường thế giới. Tuy nhiên, những cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế tại Anh Quốc đã sớm loại Anh Quốc ra khỏi danh sách nầy và năm 1990, khi khối Liên Sô tan rả, Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới cho đến nay.

Mặc dù các chỉ tiêu về siêu cường không thống nhất tùy theo quan điểm, học phái, nhưng nói chung, để được gọi là một siêu cường, quốc gia ấy phải có một số yếu tố ưu việt như một lực lượng quân sự hùng hậu, một nền kinh tế bền vững với tài nguyên và nhân lực dồi dào, một ảnh hưởng chính trị sâu rộng với các quốc gia trên thế giới.

Với những nhận định như trên, bài viết trình bày những yếu tố tối ưu cũng như những thách thức mà Trung Quốc phải đối diện để thử xem viễn tượng một Trung Quốc siêu cường là một thực tế hay chỉ là một phỏng đoán chủ quan.

Căn bản của sự vĩ đại

Trung Quốc rộng hơn 9.6 triệu km2, đứng hạng tư thế giới sau Liên Sô, Canada và Hoa Kỳ. Nếu phải kể thêm Ma Cao, Hong Kong và Đài Loan, diện tích Trung Quốc vượt hơn Hoa Kỳ một ít, do đó Trung Quốc tự xếp hạng lãnh thổ của mình rộng thứ ba thế giới. Không phải chỉ có một lãnh thổ mênh mông với 20 400 km biên giới đất liền tiếp giáp với 14 quốc gia đại lục và 15 000km bờ biển tiếp cận với 9 quốc gia ven biển và hải đảo, Trung Quốc còn có một dân số khổng lồ. Cuối năm 2014, Trung Quốc có 1367 triệu dân trong đó có 51.2% là nam, 48,8% là nữ, 55% là thị dân và 45% là dân nông thôn. (National Bureau of Statistics of China. Statistical Communiqué, Feb 25, 2015).

Mặc dù có một diện tích bao la và một dân số khổng lồ, Trung Quốc lại phân chia thành ít đơn vị hành chánh (22 tỉnh, 4 thành phố trực thuộc trung ương, 5 khu tự trị và 2 đặc khu hành chánh), vì vậy  mỗi tỉnh có diện tích và dân số lớn như một quốc gia, thí dụ như tỉnh Quảng Đông (Guangdong): 104 triệu dân, Sơn Đông (Shandong): 97 triệu, Hà Nam (Henan): 94 triệu, Tứ Xuyên (Sichuan): 80 triệu.

Cơ cấu hành chánh trên được điều khiển bởi 70 triệu công chức trong đó có 5 triệu là đảng viên (năm 2014 TQ có 85 triệu đảng viên), tạo nên tình trạng lãnh chúa ở các địa phương. Các lãnh chúa nầy tuân lịnh cấp trên, đàn áp cấp dưới, bất hợp tác hay chống đối cấp lãnh đạo hàng ngang khi chánh quyền trung ương mạnh, khi được thỏa mãn các yêu sách, nhưng hiểm họa tình trạng sứ quân là một đe dọa thường trực cho chế độ trung ương tập quyền cộng sản. Mọi yêu sách dân chủ hóa chính trị đều bị bác bỏ từ cấp chính quyền trung ương đến địa phương để kềm giữ quyền lực và quyền lợi của Đảng và đảng viên. Tổ chức đảng Cộng Sản TQ đã bắt đầu lung lay từ năm 2008 khi chuyển giao quyền lực lãnh đạo và các bất ổn gia tăng ở vùng Tây Tạng và Tân Cương. Những cuộc đàn áp chính trị để triệt tiêu phe đối lập, các người tiền nhiệm, đã bùng nỗ từ khi Tập Cận Bình cầm quyền. Một siêu cường không thể là một quốc gia độc tài, độc đảng, tiềm ẩn những bất ổn, tranh chấp nội bộ thường xuyên.

Đọc thêm…