Điểm giống nhau giữa chính phủ Cộng Hòa Nam Kỳ Tự Trị với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

Vương Kim Hùng. 

 Ngược dòng lịch sử

Hội  Nghị Potsdam [1] (17-07 đến 02-08-1945)

Cách đây hơn 70 năm, tại Potsdam, một thị trấn cách Thành Phố Bá Linh (Đức) 17 dặm về phía Tây Nam, một cuộc họp thượng đỉnh của phe Đồng Minh gồm ba nước Anh, Mỹ, và Liên Bang Sô Viết đã mở ra suốt hai tuần lễ từ ngày 17 tháng 7 năm 1945 cho đến ngày 2 tháng 8 năm 1945. Tuy Trung Hoa Dân Quốc không gởi phái đoàn đến tham dự nhưng Thống Chế Tưởng Giới Thạch, qua radio, đồng ý với quyết định của ba cường quốc nói trên. Mục đích chính của Hội Nghị Potsdam là để thảo luận các vấn đề cần phải thực hiện sau khi chiến tranh chấm dứt trong đó có những điều kiện được đặt ra cho một nước Đức bị thất trận, phân chia lại lãnh thổ của các nước Đông Âu

Hội nghị thượng đỉnh Potsdam tại Đức gồm ba phái đoàn Anh, Mỹ và Liên Bang Xô Viết (từ ngày 17 tháng 7 đến ngày 2 tháng 8 năm 1945)

Riêng về Đông Dương, phe Đồng Minh đã đưa đến quyết định là sau khi Nhật đầu hàng, Trung Hoa Dân Quốc sẽ đảm trách việc giải giới quân đội Nhật các khu vực nằm về phía Bắc của Vĩ Tuyến 16, và quân đội Anh sẽ đảm trách các vùng ở phía Nam của Vĩ Tuyến 16.

Trong bản thông tư tối mật liên quan đến vấn đề Đông Dương có hai điểm đáng chú ý đó là:

  • Một, việc giải giới quân Nhật, không có ghi rõ nước nào sẽ giữ an ninh Đông Dương sau khi Nhật đầu hàng
  • Hai, Pháp tuy không được mời tham dự Hội nghị Postsdam, nhưng Pháp sẽ vận động với Anh và Trung Hoa để trở lại Việt Nam, sau khi quân đội hai nước nầy giải giới quân đội Nhật ở Đông Dương.

Rõ ràng, từ Hội nghị Yalta đến Hội nghị Potsdam, phe Đồng Minh đã tự ý chia vùng ảnh hưởng, rồi mặc cả chia chác cho nhau, tạo cơ hội cho thực dân Pháp trở lại Việt Nam.  Việc làm nầy đã vi phạm trầm trọng quyền dân tộc tự quyết của người dân, một quyền mà bản hiến chương Liên Hiệp Quốc luôn luôn đề cao.

Sau khi thương thảo với Anh để trở lại Việt Nam, ngày 30-10-1945, Đô Đốc D’argenlieu, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, đến Sài Gòn tuyên bố:

“Chúng tôi đến đây, tôi khẳng định, không để chinh phục, thống trị, bóc lột.  Nhưng để tái lập trật tự trong một sứ mệnh chung, dưới danh nghĩa một nước Pháp mới, cương quyết chống lại mọi nền độc tài, cải thiện, việc an sinh xã hội, nền tảng kinh tế, lý tưởng dân chủ và như thế, một cuộc cải cách hành chánh và chính trị cho những phần tử tiến bộ về tri thức cũng như tinh thần trong Liên Hiệp Pháp”.

Ổn định xong việc tái chiếm Nam kỳ, Cao Ủy D’argenlieu ký Nghị Định thành lập Hội Đồng Tư Vấn Nam Kỳ [3] (Conseil Consultatif de Cochinchine) vào ngày 4 tháng 2 năm1946 và cử một Ủy Viên Cộng Hoà Pháp tại Nam kỳ làm Chủ tịch.  Lúc ban đầu có 4 hội viên người Pháp, 8 hội viên người Việt, mỗi năm họp ít nhất là hai lần.

Hội Đồng Tư Vấn Nam Kỳ gồm có:

  1. Joseph Béziat (Luật sư)
  2. William Bazé ( Chủ đồn điền)
  3. Clogne (Dược sĩ)
  4. Gressier (Điền Chủ Pháp)
  5. Nguyễn Văn Thinh (Bác Sĩ)
  6. Trần Văn Phát (Y sĩ)
  7. Trần Thiện Vàng (Nghiệp Chủ)
  8. Lê Văn Định (Điền Chủ )
  9. Nguyễn Thành Lập ( Đổng lý Việt Nam Ngân Hàng)
  10. Nguyễn Tấn Cường (Nghiệp Chủ)
  11. Nguyễn Văn Thạch (Dược Sĩ)
  12. Hồ Văn Trung (Đốc Phủ Sứ) tức nhà văn Hồ Biểu Chánh

Các thành viên trong  Hội Đồng Tư Vấn Nam Kỳ là những người giàu có, điền chủ, chủ đồn điền, chủ ngân hàng, quyền lợi của họ đều gắn liền quyền lợi của người Pháp lúc bấy giờ. Ngoài ra, người Pháp còn lập ra “Mặt Trận Bình Dân Nam Kỳ” [4] nhằm tuyên truyền cổ động cho Hội Đồng Tư Vấn Nam Kỳ đồng thời hai tờ báo “Phục Hưng” và “Tiếng Gọi” đươc sử dụng làm cơ quan ngôn luận để lôi kéo dư luận người Việt ủng hộ cho chính phủ Cộng Hòa Nam Kỳ Tự Trị sắp ra đời.

Thành phần nòng cốt của Mặt trận Bình Dân Nam Kỳ gồm có các ông:

  • Nguyễn Tấn Cường
  • Nguyễn Phong Cảnh
  • Nguyễn Phong Tấn
  • Lê Văn Trương

Trước khi Chính Phủ Cộng Hòa Nam Kỳ Tự Trị ra đời, chính phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh và Pháp cũng có Hội nghị sơ bộ tại Đà Lạt từ ngày 17 đến ngày 24-04-1946.  Trong cuộc họp nầy, hai bên tranh cãi nhau về nhiều vấn đề trong đó có vấn đề Nam Kỳ.  Cuối cùng, cả hai bên không đạt một quyết định thống nhất đành phải chờ một cơ hội kế tiếp.

Chính Phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị Ra Đời [5]

Ngày 1 tháng 6 năm 1946, Chính Phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị chính thức được thành lập và ra mắt quốc dân trước nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Nội các của chính phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị gồm có:

  • Thủ Tướng kiêm Nội Vụ: Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh
  • Phó Thủ Tướng kiêm Quốc phòng: Đại Tá Nguyễn Văn Xuân
  • Tổng Trưởng Tư Pháp: Trần Văn Tỷ
  • Tổng Trưởng Tài Chính: Nguyễn Thành Lập
  • Tổng Trưởng Vận Tải: Lưu Văn Lang (không nhận)
  • Tổng Trưởng Canh Nông Thương Mại và Kỷ Nghệ: Ung Bảo Toàn
  • Tổng Trưởng Giáo Dục: Nguyễn Thanh Giung
  • Tổng Trưởng Y Tế Lao Động và Xã Hội: Khương Hữu Long
  • Tổng Trưởng An Ninh toàn quốc: Nguyễn Văn Tâm
  • Thứ Trưởng An Ninh Sài Gòn – Chợ Lớn: Nguyễn Tấn Cường
  • Thứ Trưởng Vận Tải: Đỗ Văn Trà

Ngoài các thành phần trong nội các, 4 người Pháp và 8 người Việt cũng được bổ nhiệm vào Ban Cố Vấn của chính phủ.  Quốc kỳ gồm nền vàng giữa có 3 sọc xanh, hai sọc trắng, chính thức bay phất phới khắp Sài Gòn – Chợ Lớn. Riêng về Quốc Thiều, theo sáng kiến của Hồ Văn Trung, 8 câu thơ đầu trong Chinh Phụ ngâm  được dùng làm quốc thiều cho Chính Phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị.

Thưở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi nầy.
Trống trường thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chín từng gươm báu trao tay
Nửa đêm truyền Hịch định ngày xuất chinh

Chính Phủ Cộng Hòa Nam Kỳ Tự Trị được nặn ra với mục đích tiếp tục chính sách “Chia để trị” của thực dân Pháp.  Chính sách “Chia để trị” bắt đầu từ năm 1861 khi quân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ Lục Tỉnh. Sau khi Hoà Ước Qúi Mùi 1883 được ký kết, Việt Nam thật sự bị phân chia làm 3 miền với chế độ chính trị khác nhau:

  • Bắc Kỳ gọi là Tonkin, từ Thanh Hóa trở ra, gọi là đất Bảo hộ, đứng đầu có một Thống Sứ cai trị. Đầu năm 1946, Pháp muốn áp đặt chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà cho vùng nầy.
  • Trung Kỳ gọi là An Nam, từ Thanh Hoá vào tới Bình Thuận. Trên nguyên tắc là lãnh thổ do triều đình nhà Nguyễn cai trị, nhưng thực tế, Pháp giành hết mọi quyền đối nội lẫn đối ngoại. Đứng đầu là Khâm Sứ, miền nầy Pháp chưa có một ý định rõ rệt.
  • Nam Kỳ gọi là Cochinchine, từ Bình Thuận tới Cà Mau là đất thuộc địa, đứng đầu là Thống Đốc, cai trị trực tiếp như lãnh thổ hải ngoại của Pháp.

Dưới sự độ hộ của Thực Dân Pháp, người dân miền nầy muốn qua miền kia phải có giấy thông hành.  Lên cao nguyên Trung phần càng bị hạn chế gắt gao hơn.

Ngoài Nam Kỳ Tự Trị, thực dân Pháp còn cho phép một số sắc tộc thiểu số ở Miền Bắc được phép tự trị.  Những vùng mà được Pháp cho tự trị gồm:

  • Mong Cái được gọi là xứ Nùng tự trị
  • Vùng Sơn La, Lai Châu gọi là xứ Thái tự trị

Tất cả những vùng tự trị nầy đều có hiệu kỳ riêng biệt và việc ban thưởng đặc quyền tự trị nầy đã làm cho quyền lực của chính quyền trung ương bị suy yếu rất nhiều.

Những nguyên nhân dẫn đến việc thành lập Chính Phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị

Sau khi cướp chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim vào mùa Thu năm 1945, Hồ Chí Minh, phát động chiến dịch trường kỳ kháng chiến, mở màn cho những cuộc khủng bố dân lành tàn khốc chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Sau khi đảng cộng sản được thành lập và hoạt động, những cuộc khủng bố, trả thù man rợ và hèn hạ nhất bắt đầu xảy ra từng ngày trên khắp mọi nơi nhất là những vùng quê xa thành phố và những vùng xôi đậu. Bất cứ người nào bị cộng sản nghi ngờ là làm gián điệp cho Pháp, dù là vô tội, cũng bị bắt ra khỏi nhà lúc nửa đêm rồi bị sát hại một cách dã man. Những hình ảnh giết người tàn bạo của cộng sản như “mổ bụng rồi dồn trấu” vào người nạn nhân đến nay người dân Miền Nam, nếu còn sống, vẫn còn ghi lại rõ ràng trong ký ức của họ.  Sách lược đối với đồng bào ruột thịt của mình trong quá trình làm tay sai cho Nga, Tàu của Hồ Chí Minh là “Thà giết oan mười người còn hơn để một kẻ có tội trốn thoát” hoặc “Thà giết lầm người chớ không thả lầm

Cộng sản không chỉ ra tay hạ sát những người mà chúng nghi ngờ theo Tây, chúng còn thẳng tay sát hại những nhà trí thức yêu nước nhưng không cùng chung một đường lối chính trị của chúng trong đó có: Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Luật sư Dương Văn Giáo, Luật sư Huỳnh Văn Phương, nhà báo Diệp văn Kỳ, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Văn Sâm, Luật sư Huỳnh Thái Thông vợ chồng Bác sĩ Hồ Vĩnh Ký – Nguyễn Thị Sương, Trần Văn Thạch, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ…

Bản chất tàn ác cộng sản đã làm cho người dân Miền Nam căm thù và không muốn hưởng ứng phong trào Việt Minh (Việt Nam Độc Lập Đồng Minh) do Hồ Chí Minh dựng ra, dù họ yêu nước nồng nàn, luôn luôn mong muốn một nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Trước kia, vì không muốn hợp tác với Pháp, nhiều gia đình bỏ thành phố, trở về quê sinh sống, sau khi biết rõ bản chất của cộng sản, họ lại khăn gói trở về thành để sống dưới sự cai trị của Pháp.  Tuy Pháp có tàn ác nhưng không tàn ác và giết người không gớm tay như cộng sản. Do đó, khi Thực Dân Pháp đưa ra chính sách Nam Kỳ Tự Trị, thì đối với các nhà trí có tinh thần quốc gia dân tộc, thì đây là một một cơ hội, một bước đầu tiên dẫn tới việc độc lập và thống nhất ba miền đất nước sau này. Trong giai đoạn này, theo Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh thì “người Quốc gia đang lưỡng đầu thọ địch” cả Pháp lẫn Việt Minh [6] và đối với những người theo khuynh hướng quốc gia dân tộc thì đây là cơ hội trong buổi buổi giao thời chính trị hay là buổi hoang hôn của sự thống trị của người Pháp tại Việt Nam.

Thực Dân Pháp không có thiện chí trong chính sách Nam Kỳ Tự Trị

Sau khi Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị thành lập được hai ngày, Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh cho xúc tiến thành lập một quân đội riêng có tên là “Vệ Binh Cộng Hoà Nam Kỳ”.  Đây là lực lượng quân sự đầu tiên của người Việt ở Nam Kỳ từ khi Pháp đánh chiếm trọn 6 tỉnh Miền Nam.  “Vệ Binh Cộng Hoà Nam Kỳ” là lực lượng Vệ binh nòng cốt nhằm đối đầu với quân Việt Minh Cộng sản [8].

Trớ trêu thay, tuy có tiếng là một chính phủ hợp pháp, chính phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị lại không có một cơ sở và văn phòng để làm việc và lo việc nước theo đúng nghĩa và quyền hạn của một chính phủ thật sự, Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh phải làm việc ở nhà riêng của ông ở đường Verdun, Sài Gòn (Lê Văn Duyệt sau nầy). Pháp chỉ cấp cho ông một chiếc xe hơi mang biển số C.Z.00 để đi lại [7]. Rõ ràng, Pháp không có thiện chí để tạo cho Miền Nam một vùng tự trị thật sự. Chúng dùng Nam Kỳ Tự Trị làm bình phong để tạo sự ủng hộ của người Việt chống lại Việt Minh và để kéo thời gian đô hộ Việt Nam. Trong suốt thời gian tại chức, nhiều lần Thủ Tướng Nguyễn Văn Thinh đòi hỏi Pháp trao trả quyền hành cho người Việt như đã hứa hẹn, nhưng không thành công

Cái chết của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh

Sau hơn 5 tháng điều hành quốc gia trong vai trò là Thủ Tướng của chính phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị, Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm việc bất kể ngày đêm, hy vọng rồi có một ngày đồng bào được tự do và miền Nam có một nền độc lập thật sự, đúng với lời hứa hẹn mà người Pháp đã tuyên bố trao quyền lại cho chính phủ do ông lãnh đạo. Niềm tin mãnh liệt cộng với lòng yêu nước vô biên của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh đã bị người Pháp lợi dụng qua những mưu toan chính trị. Biết mình bị lừa, sau năm tháng tại chức, ngày 10 tháng 11 năm 1946, vào ban đêm Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh dùng dây điện thắt cổ tại nhà riêng của ông, đây cũng là văn phòng chính phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị.

Sự bất tín và mưu mô của người Pháp, khiến ông cảm thấy hổ thẹn mà tìm đến cái chết.

“Sĩ khả sát, bất khả nhục”
(Kẻ Sĩ có thể chết, chớ không chịu nhục)

Hành động tự sát của ông đã nói lên vai trò của kẻ sĩ đối với đất nước, một là tạ tội với đồng bào khi nhiệm vụ không hoàn thành; hai là cảnh tỉnh những người đang hợp tác với thực dân Pháp.  Được tin Bác Sĩ Thinh treo cổ tự tử, Hồ Chí Minh giả vờ tuyên bố:

Bác sĩ Thinh vì quá cả tin mới nên nông nỗi nầy”   [9]

Đám tang Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh được cử hành lặng lẽ, nhưng rất trang nghiêm và được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Trên phần mộ của ông được ghi bằng tiếng Pháp:  “Docteur Nguyễn Văn Thinh Président Du Gouvernement De La Cochinchine”

Cái chết của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh quá bất ngờ gây hoang mang cho đồng bào ở miền Nam, riêng giới trí thức thì tỏ ra e dè hơn khi hợp tác với người Pháp.

Gần một tháng sau ngày chết của Bác Sĩ Thinh, người Pháp mới tìm được người thay thế.  Đó là  Bác Sĩ Nhãn Khoa Lê Văn Hoạch, ông gốc đạo Cao Đài, có văn phòng ở Cần Thơ để khám bệnh. Ngày 9 tháng 12 năm 1946, Thủ Tướng Lê Văn Hoạch cùng Nội Các của ông đã trình diện trước quốc dân tại Sài Gòn

Trong khi đó, tại Miền Bắc, với sự hỗ trợ của Liên Xô và Cộng Sản Tàu, Hồ Chí Minh phát động phong trào trường kỳ kháng chiến. Để đối đầu lực lượng càng ngày càng mạnh của cộng sản, Pháp bắt đầu mở các khóa huấn luyện quân sự cho cấp chỉ huy người Việt để phục vụ cho chiến tranh chống cộng. Ngày 15 tháng 7 năm 1947, khóa huấn luyện “Liên Quân Viễn Đông” tại Đà Lạt khai giảng, mở màn cho các khóa huấn luyện sĩ quan và binh sĩ cho những năm sau nầy.

Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam

Sau khi Pháp đầu hàng ở Điện Biên Phủ, dẫn đến việc Hiệp Định Genève được ký kết vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, chia đôi đất nước, lấy Vĩ Tuyến 17 làm ranh giới. Không bỏ tham vọng nhuộm đỏ Việt Nam, Hồ Chí Minh lợi dụng những sự bất ổn định chính trị lúc bấy giờ đưa người vào Nam, khơi dậy tinh thần dân tộc nhằm đánh đổ nền Cộng Hòa còn non trẻ của Miền Nam Việt Nam.

Để danh chánh ngôn thuận, Cộng Sản Bắc Việt cho thành lập cái gọi là “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam” vào ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập- Huyện châu Thành tỉnh Tây Ninh và dùng “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam” là tấm bình phong để thực hiện tham vọng nhuộm đỏ Đông Nam Á theo lệnh của Mao Trạch Đông. Thật ra, nơi mà Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam ra mắt không nằm trong lãnh thổ Việt Nam như những tuyên bố mà ở tại đồn điền cao su gần Snoul, nằm sâu trong lãnh thổ Campuchia, gần Quốc Lộ 13, trên đường từ Bình Long đến Thị Trấn Kratie [10].

Tương tự như Thực Dân Pháp lập ra chính phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị để thực hiện mưu đồ chính trị của mình, thì Cộng Sản Bắc Việt cũng lập ra một chính phủ “hữu danh vô thực” Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) để tuyên truyền, khủng bố, phá hoại và gây xáo trộn rồi dùng nó để đánh đổ nền Cộng Hòa non trẻ của Miền Nam. Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam trên danh nghĩa là do người dân Miền Nam lập ra để đứng lên làm một cuộc cách mạng giải phóng miền Nam thoát khỏi ách nô lệ của ngoại bang, nhưng thật ra, mọi việc đều do Cộng Sản Bắc Việt xếp đặt, tổ chức từ thành phần nhân sự, chính trị, chiến lược quân sự… và người chỉ huy trực tiếp là Đại Tướng Cộng Sản Nguyễn Chí Thanh [11]. Qua guồng máy tuyên truyền xảo quyệt của Cộng Sản Bắc Việt, MDTGPMN là tổ chức để tranh đấu cho người dân Miền Nam để đánh đổ “Ngụy quyền Sài Gòn và Đế Quốc Mỹ”, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, luôn luôn tôn trọng Hiệp Định Genève 1954

Thành phần nhân sự của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đã thu hút sự cộng tác của nhiều trí thức miền Nam như:  Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, Kiến Trúc Sư Huỳnh Tấn Phát, Bác Sĩ Phùng Văn Cung, Giáo Sư Nguyễn Văn Hiếu, Bác Sĩ Dương Huỳnh Hoa, Luật Sư Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Thị Bình, Trương Như Tảng…

Sau khi được dựng ra, ban lãnh đạo của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam gồm có:

  • Chủ Tịch: Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ
  • Phó Chủ Tịch: Bác Sĩ Phùng Văn Cung
  • Phó Chủ Tịch: Võ Chí Công
  • Phó Chủ Tịch: Kiến Trúc Sư Huỳnh Tấn Phát,

Ngoài ra, Ybih Aleo, Đại Đức Sơn Vọng và Nguyễn Văn Hiếu được bầu làm Tổng Thư Ký Mặt Trận.

Quốc kỳ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, gồm có hai màu chia đều nhau, màu xanh và màu đỏ, chính giữa đính một ngôi sao vàng năm cánh.

Sau khi cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam được thành lập, Cộng Sản Bắc Việt từng bước xây dựng chiến khu, mở đường để tải quân, lương thực và vũ khí vào Nam. Cộng Sản Bắc Việt mở đường mòn Hồ Chí Minh trên lãnh thổ Lào và Campuchia dọc theo biên giới Lào -Việt, và Campuchia – Việt Nam. Hàng đêm, trên đường mòn Hồ Chí Minh, súng ống, vũ khí hạng nặng, như xe tăng, đại pháo, sung phòng không nhập từ Trung Cộng, Liên Xô được chuyển xuống Miền Nam để khủng bố và giết hại đồng bào ruột thịt. Song song với với việc vận chuyển chiến cụ trên đường mòn HCM, Bắc Việt còn mở thêm con đường biển nữa dùng cảng Shihanoukville của   Kampuchia để chuyên chở vũ khí vào Miền Nam bằng đường biển.

Sự ra đời của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam và các tổ chức thân cộng tại Miền Nam

Ngày 30 và Mồng Một Tết Nguyên Đán năm Mậu Thân 1968, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam với sự hậu thuẫn của Cộng Sản Bắc Việt, đã phát động một “Tổng Nổi dậy Tổng Công Kích” – mở một cuộc chiến toàn diện vào Miền Nam từ Bến Hải xuống tận An Xuyên (Cà Mau) xé bỏ cam kết hưu chiến để dân cả hai miền được ăn Tết cổ truyền. Tuy bị đánh bất ngờ, nhưng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và quân đội Đồng Minh Mỹ-Việt đã nhanh chóng bẽ gãy âm mưu xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt. Quân Cộng Sản đã thất bại hoàn toàn trong trận chiến Mậu Thân, dù chiếm được Cố Đô Huế 26 ngày (Phân nửa Thành Phố Huế rơi vào tay quân Cộng sản). Sau khi quân Cộng sản rút đi, hơn phân nửa quân chính quy Bắc Việt bỏ xác tại miền Nam, riêng quân đội của MTDTGPMN gần như hoàn toàn bị tiêu diệt.

Tuy cả quân đội chính quy cộng sản Bắc Việt cũng như quân đội của MTDTGPMN bị thất bại nặng nề trong cuộc Tổng Nổi Dậy, Tổng Công Kích, nhưng về mặt chính trị, nó in một dấu ấn quan trọng trong tâm thức của người dân Mỹ. Để cứu vãn tình thế và gầy dựng lại những thiệt hại to lớn tại Miền Nam trong cuộc tấn công và các tỉnh thành Miền Năm năm 1968; lợi dụng phong trào phản chiến chống chiến tranh Việt Nam đang dâng cao và lan tràn khắp nước Mỹ cũng như nhiều thành phố ở Âu Châu và Úc Châu đồng thời có thêm tiếng nói tại Hội Nghị Paris, Hà Nội cho ra đời cái gọi là “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” vào ngày 8 tháng 6 năm 1969 do Kiến Trúc Sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ Tịch, và Hội Đồng Cố vấn Chính Phủ do Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ Tịch. Mặc dù Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN), không đại diện cho dân Miền Nam nhưng với sự hậu thuẫn chính trị của Hà Nội cũng như môi trường chính trị tại Hoa Kỳ lúc bấy giờ, Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa buộc phải chấp nhận CPCMLTCHMNVN là một thành viên trong Hội Nghi Paris

Ngoài “Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam” và “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam”, Cộng Sản Bắc Việt, qua những tên cộng sản nằm vùng, lợi dụng sự tự do, dân chủ của Việt Nam Cộng Hoà, còn nhào nặn ra hàng chục tổ chức chống đối với mục đích lật đổ chính quyền hợp hiến của miền Nam. Những tổ chức tiêu biểu hoạt động chống chính quyền bao gồm:

  • Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc Dân chủ và Hoà Bình thành lập ở Huế trong dịp tết Mậu Thân 1968 do Giáo Sư Lê Văn Hảo làm chủ tịch.
  • Ủy Ban Trung Ương Liên Minh các Dân Tộc Dân Chủ và Hoà Bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch thành lập tại Sài Gòn
  • Luật sư Trần Ngọc Liễng thành lập một đảng chính trị lấy tên Phong Trào Quốc Gia Tiến Bộ, với Tổng Thư ký Phong Trào là Phan Văn Mỹ lãnh chỉ thị trực tiếp cuả các tên cộng sản nằm vùng tại Sài Gòn
  • Bà Ngô Bá Thành lập ra Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống do bà làm Chủ Tịch
  • Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng ra mắt ngày 18 tháng 6 tại Sài Gòn do Linh Mục Trần Hữu Thanh cầm đầu.
  • Ngày Ký Giả Ăn Mày do những tên Cộng sản nằm vùng xách động như Tô Nguyệt Đình, Nguyễn Kiên Giang, Vũ Hạnh…

Trong lúc ở ngoài tiền tuyến các chiến sĩ của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà ngày đêm chiến đấu gian khổ để bảo vệ từng tấc đất, quyết không để lọt vào quân Cộng sản xâm lược, thì nơi hậu phương, những tên trí thức thân cộng tìm đủ mọi cách để phá rối chính quyền đã cưu mang gia đình họ, giáo dục họ để trở thành những người có địa vị và nghề nghiệp tốt trong xã hội

Các điểm tương đồng giữa chính phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị và chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam

Điểm tương đồng giữa chính phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam hay chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam đều là xuất thân ở Miền Nam, thuộc hàng trí thức và có địa vị trong xã hội. Điểm tương đồng thứ hai là cả hai chính phủ đều là công cụ chính trị có tính toán của Pháp hay của Hà Nội.

Khi Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh, Thủ Tướng của chính phủ Cộng Hoà Nam Kỳ Tự Trị, sau 5 tháng chấp chính, biết mình bị lường gạt, ông chọn cái chết để tạ tội cùng Quốc Dân khi sứ mạng chưa hoàn thành, còn Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam hành xử như thế nào khi biết Đảng Cộng Sản lợi dụng suốt 15 năm trời?

Sau chiến tranh, vai trò của CPCMLTCHMNVN không còn quan trọng, như trái chanh đã bị vắt hết nước, những thành phần trong chính phủ CPCMLTCHMNVN bị gạt ra khỏi chính trường, không còn tiếng nói trong việc xây dựng một Miền Nam thời hậu chiến. Chỉ có Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa, sau khi biết mình bị Hà Nội lừa, nói với Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng miền Nam, vào năm 1978 rằng:

  • Anh và tôi đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ.  Vì vậy, tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả.   [12]

Cuộc chiến đã tàn gần 41 năm, dù Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam không còn nữa,  nhưng nó đã để lại vết nhơ trong lịch sử trong việc trực tiếp tiếp tay với cộng sản Bắc Việt, giết hại, khủng bố đồng bào ruột thịt của mình trong suốt 15 năm

Thay lời kết

Xin mượn một bài viết của Cụ Trần Văn Ân, thay cho lời kết nói về Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh   [13]

“Tôi có quen biết với bác sĩ Thinh từ năm 1929, vì Thinh là bạn Dương Văn Giáo Luật sư.  Mà tôi là người bạn nhỏ tuổi của Dương Văn Giáo.  Tôi cho lời ông Lang là đúng sự thật, quả tình ông Thinh là người ngay thật, chánh trực và hảo tâm.

Chúng tôi chống chính sách phân ly không tiếp xúc với Bác Sĩ Thinh khi ông lập Chính phủ Nam Kỳ Tự Trị.  Nhưng ông Thinh vốn có đức độ khiêm tốn.  Ông khác lập trường với chúng tôi nhưng vẫn là người ái quốc.  Ông tự tử khi nhận ra mình bị gạt, khi thấy Pháp chỉ có dã tâm…

Hôm nay ngồi viết về cái chết của Bác sĩ Thinh, lúc người tôi đã 84 tuổi Việt, đã hành thiền trên 20 năm qua, tôi thấy phải lấy lại công tâm mà xét về cử chỉ cuả Bác sĩ Thinh.  Năm 1946 tôi coi thường và cho rằng ông chết là phải, bởi đi ngược nguyện vọng nhân dân.  Nay xét lại thấy Bác sĩ Thinh cũng như Nguyễn Văn Sâm, như các bạn Thâu, Thạch, Hùm, Chánh, Phương, Đường (Lâm Ngọc) kẻ trước người sau đều là nạn nhân của đế quốc, đế quốc trắng và đế quốc đỏ.”

Vương Kim Hùng

Sydney 12 – 02 – 2016.

 

Chú thích

  1. Hội nghị Potsdam: Trần Gia Phụng “Việt Sử Đại Cương Quyển 5 trang 43. Nhà xuất bản Non Nước
  2. Trần Gia Phụng – Sách đã dẫn trang 130.
  3. Ngày 04 -02 -1946 D’argenlieu thiết lập một Hội Đồng Tư Vấn Nam Kỳ, do Ủy Viên Cộng Hòa Pháp chủ tọa, với 4 Hội viên Pháp và 8 Hội viên Việt. Đoàn Thêm: 1945 – 1964 Việc từng ngày, hai mươi năm qua.
  4. Hứa Hoành – Nam kỳ Lục Tỉnh Quyển 3- Trang 80 – 81 Nhà Xuất bản Văn Hoá – Hoa Kỳ 1955-
  5. Đoàn Thêm: 1945 – 1964 việc từng ngày – Hai mươi năm qua:
    1. Ngày 01 -06 -1946 (2 tháng 5 Bính Tuất), Chính phủ cuả nước Cộng Hoà Nam Kỳ ra trình diện trước Nhà thờ Đức Bà , Sài Gòn.
    2. Nước nầy là một Quốc gis Tự Do được Pháp thừa nhận, có chính phủ riêng. Song mỗi vụ bổ nhiệm công chức cao cấp phải được thỏa hiệp của Ủy Viên Cộng Hoà Pháp. Thành phần Hội Đồng Tư Vấn Nam Kỳ mở rộng, gồm 42 Hội viên, trong đó có 14 người Pháp.
  6. Hứa Hoành – Nam kỳ Lục Tỉnh – Quyển 3 – Trang 87-88. Nhà xuất bản Văn Hoá – Hoa Kỳ 1995.
  7. Nguyễn Long Thành Nam – Phật Giáo Hoà Hảo – Trong Dòng Lịch sử Dân Tộc – Trang 378 – Nhà xuất bản Đuốc Từ Bi – Hoa Kỳ 1991.
  8. Hứa Hoành – Nam kỳ Lục Tỉnh Quyển 3. Trang 93 –  Nhà xuất bản Văn Hoá – Hoa Kỳ 1995.
  9. Hứa Hoành – Sách đã dẫn Trang 94.
  10. Vương Kim Hùng – Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà – Trang 287 – Xuất bản tại Australia 2012.
  11. Kim Nhật – Về R – Nhà Xuất bản “Sống” – Sài Gòn 1967. Trang 16 ghi:

Nguyễn Chí Thanh từ Hà Nội cải trang vào Nam Vang và cho người về liên lạc với Thường Vụ Trung Ương Cục Miền Nam đóng ở giữa rừng sâu Chiến Khu D thuộc tỉnh Phước Thành.  Nguyễn Chí Thanh sau khi nghe báo cáo tình hình, trao quyết nghị cuả Trung Ương chỉ thị cho Trung Ương Cục Miền Nam phải gấp rút chuẩn bị cho công bố một tổ chức, tên được chọn sẵn là:

“MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM”

Có như thế, danh có chính ngôn mới thuận

Có như thế, nó mới có “Chính Nghiã” đặc hiệu của nhân dân Miền Nam không dính dáng gì đến Miền Bắc, đến Hà Nội.

Và tổ chức làm thế nào trong đó có đủ mọi thành phần tham dự như:  Trí thức, nhân sĩ, nông dân, công nhân, nghệ sĩ, tôn giáo, đảng phái, dân tộc thiểu số….

Trang 95 cũng ghi lại:

Trung Ương Cục miền Nam được lệnh của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng ở Hà Nội cho thành lập “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng miền Nam một cách gấp rút để “Chính nghiã hoá” cuộc chiến tranh nầy.

Có thế Hà Nội mới không bị đặt vào một tình trạng nguy hiểm về chính trị và có như thế mới ngăn chận được sự can thiệp tức khắc, ồ ạt như vũ bão của các nước có chân trong tổ chức Liên Phòng Đông Nam Á (SEATO) nhứt là lực lượng Mỹ.  Nếu các nước trên nhảy vào ồ ạt nhanh chóng, như thế thì còn gì là “Cách Mạng Miền Nam”.  Nó sẽ chết ngay từ buổi ban đầu.

  1. Vương Kim Hùng “Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà” Trang 311 – Xuất bản tại Australia 2012.
  2. Nguyễn Long Thành Nam “Phật Giáo Hoà Hảo – Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc” Trang 378 – Nhà Xuất bản Đuốc Từ Bi – Hoa Kỳ 1991.